Chuyển đổi số an toàn cùng Luật An ninh dữ liệu

Thứ ba - 27/10/2026 22:14 Tác giả: Sểnh Củi

Sự cần thiết ban hành Luật An ninh dữ liệu trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra sâu rộng trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Phân loại dữ liệu theo cấp độ rủi ro và các quy định trách nhiệm cụ thể của các chủ thể.

ảnh 1
ảnh 1

Trong bối cảnh khoa học, công nghệ phát triển mạnh mẽ, chuyển đổi số đang diễn ra sâu rộng trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Các hoạt động như thực hiện thủ tục hành chính trực tuyến, thanh toán không dùng tiền mặt, khám chữa bệnh điện tử, học tập trực tuyến, sử dụng tài khoản định danh điện tử và giao dịch trên các nền tảng số ngày càng trở nên phổ biến, mang lại nhiều tiện ích cho người dân và doanh nghiệp. Luật An ninh dữ liệu được ban hành nhằm xác lập rõ nét chủ quyền dữ liệu quốc gia, khẳng định quyền tối cao của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong việc ban hành chính sách, pháp luật, quản lý, kiểm soát và bảo vệ dữ liệu thuộc quyền tài phán của Việt Nam

Luật phân định rõ ràng giữa quyền quản lý về an ninh dữ liệu của Nhà nước và quyền sở hữu, khai thác tài sản dữ liệu hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Việc bảo vệ chủ quyền dữ liệu nhằm bảo vệ dữ liệu trước các nguy cơ bị truy cập, chiếm đoạt, sử dụng, tiết lộ hoặc sửa đổi trái phép; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; đồng thời tạo điều kiện khai thác dữ liệu hiệu quả, phục vụ phát triển kinh tế số và chuyển đổi số quốc gia

Hệ thống phân loại dữ liệu theo 05 cấp độ rủi ro an ninh dữ liệu. Điểm đột phá của Luật An ninh dữ liệu là việc thiết lập hệ thống phân loại bảo vệ an ninh dữ liệu theo 05 cấp độ rủi ro từ thấp đến cao:

Cấp độ 1 (Rủi ro thấp): Dữ liệu công khai, dữ liệu mở theo quy định của pháp luật, ít gây tổn hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Cấp độ 2 (Rủi ro trung bình): Dữ liệu lưu hành nội bộ, dữ liệu kinh doanh và dữ liệu cá nhân thông thường.

Cấp độ 3 (Rủi ro cao): Dữ liệu quan trọng, dữ liệu cá nhân nhạy cảm được xử lý ở quy mô lớn, gây tổn hại rất nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân hoặc đe dọa phương hại an ninh quốc gia.

Cấp độ 4 (Rủi ro rất cao): Dữ liệu cốt lõi, khi bị xâm phạm gây tổn hại đặc biệt nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và gây phương hại an ninh quốc gia.

Cấp độ 5 (Rủi ro đặc biệt nghiêm trọng): Dữ liệu cốt lõi thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh và dữ liệu cốt lõi về vận hành, điều khiển các công trình quan trọng đặc biệt liên quan đến an ninh quốc gia.

Luật An ninh mạng tập trung bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin; Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể dữ liệu cá nhân; Luật Dữ liệu điều chỉnh việc xây dựng, quản trị, khai thác, chia sẻ, phân loại dữ liệu theo tính chất quan trọng. Tình trạng mua bán trái phép dữ liệu cá nhân, rò rỉ bí mật nhà nước, tấn công mã hóa dữ liệu hay gián điệp dữ liệu đang diễn biến phức tạp. Luật An ninh dữ liệu nghiêm cấm các hành vi chiếm đoạt, phá hoại, mua bán, làm lộ, làm mất, đầu độc dữ liệu; lợi dụng AI và thuật toán để thao túng thông tin; hoặc cản trở trái phép hoạt động xử lý dữ liệu hợp pháp.

Luật quy định trách nhiệm cụ thể của các chủ quản dữ liệu trong việc: Tự xác định cấp độ rủi ro, thực hiện đánh giá tác động an ninh dữ liệu và tổ chức kiểm toán định kỳ (đối với dữ liệu từ Cấp độ 3 trở lên); xây dựng phương án ứng phó, khắc phục sự cố; báo cáo sự cố an ninh dữ liệu qua hệ thống điện tử thống nhất do Bộ Công an vận hành; áp dụng các giải pháp kỹ thuật tiên tiến, đặc biệt là lộ trình chuyển đổi sang mật mã kháng lượng tử đối với các hệ thống thông tin quan trọng để bảo vệ dữ liệu trước sự phát triển của công nghệ trong tương lai.

Các hành vi vi phạm quy định về an ninh dữ liệu sẽ bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật (kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự). Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, việc che giấu sự cố hoặc cố ý xác định sai cấp độ sẽ là căn cứ xem xét tăng nặng.

Việc ban hành Luật không chỉ nhằm khắc phục khoảng trống pháp lý, hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo đảm an ninh dữ liệu, mà còn tạo cơ sở chuyển đổi phương thức quản lý từ bị động ứng phó sang chủ động phòng ngừa, kiểm soát rủi ro; bảo vệ vững chắc chủ quyền dữ liệu quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, đồng thời tạo nền tảng an toàn, tin cậy để thúc đẩy chuyển đổi số và phát triển kinh tế số bền vững.

Bảo vệ dữ liệu cá nhân là trách nhiệm của mỗi cơ quan, tổ chức và từng người dân. Mỗi cá nhân cần nâng cao ý thức tự bảo vệ thông tin của mình, góp phần xây dựng môi trường số an toàn, lành mạnh, phục vụ hiệu quả công cuộc chuyển đổi số quốc gia và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây