Nhận diện tội 'Tham ô tài sản' trong doanh nghiệp tư nhân: Những vấn đề Điều tra viên cần lưu ý

Thứ ba - 25/08/2026 23:48 Tác giả: CSKT

Nhận diện chính xác ranh giới pháp lý giữa tội 'Tham ô tài sản' (Điều 353 BLHS) và tội 'Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản' (Điều 175 BLHS) đối với các hành vi chiếm đoạt tài sản trong khu vực kinh tế tư nhân là yêu cầu nghiệp vụ cấp thiết, bảo đảm nguyên tắc xử lý đúng người, đúng tội, không bỏ lọt tội phạm ngay từ giai đoạn tiếp nhận nguồn tin tố giác và điều tra ban đầu.

Định tội danh “tham ô tài sản” trong khu vực kinh tế tư nhân: Những vướng mắc từ thực tiễn xét xử và đề xuất hoàn thiện
Định tội danh “tham ô tài sản” trong khu vực kinh tế tư nhân: Những vướng mắc từ thực tiễn xét xử và đề xuất hoàn thiện

Thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong khu vực ngoài nhà nước ngày càng được các Cơ quan Cảnh sát điều tra chú trọng.

Thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm kinh tế những năm qua ghi nhận nhiều vụ việc người lao động trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh (như dịch vụ viễn thông, bưu chính, chuyển phát nhanh thu COD, thủ kho logistics...) lợi dụng nhiệm vụ được giao để chiếm đoạt tài sản của đơn vị. Quá trình tiếp nhận tin báo, xác minh và khởi tố vụ án thường phát sinh tranh luận trong việc xác định tội danh giữa Điều 353 (Tham ô tài sản) và Điều 175 (Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản).

1. Cơ sở pháp lý xác định chủ thể tội Tham ô tài sản khu vực ngoài nhà nước

Theo Điều 353 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tội Tham ô tài sản quy định hành vi của người có chức vụ, quyền hạn lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý.

Quá trình điều tra cần nắm vững các căn cứ pháp lý mở rộng về "chủ thể":

  • Khoản 2 Điều 352 BLHS: Người có chức vụ bao gồm cả người do hợp đồng hoặc do "một hình thức khác", được giao thực hiện một nhiệm vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện nhiệm vụ.
  • Khoản 5 Điều 2 Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐTP của TAND Tối cao: Xác định người được giao nhiệm vụ cụ thể gắn với quyền hạn tương ứng thông qua phân công công việc thực tế vẫn là chủ thể của tội phạm về chức vụ.
  • Công văn số 196/TANDTC-PC ngày 03/10/2023 của TAND Tối cao: Hướng dẫn rõ các đối tượng tuy không giữ chức danh quản lý nhưng được giao nhiệm vụ quản lý, thu giữ tài sản (nhân viên thu cước viễn thông, shipper thu tiền COD, nhân viên giao nhận bưu kiện) mà chiếm đoạt tài sản mình có trách nhiệm quản lý thì phải bị khởi tố, xử lý về tội Tham ô tài sản, không phụ thuộc vào việc có hợp đồng lao động chính thức hay không.

2. Điểm mấu chốt phân biệt giữa Điều 353 và Điều 175 BLHS phục vụ công tác điều tra

Để định tội danh chuẩn xác ngay từ khi lập hồ sơ thụ lý, Điều tra viên và Cán bộ điều tra cần đánh giá toàn diện các yếu tố:

  • Về nguồn gốc tiếp nhận tài sản: Tội Tham ô tài sản (Điều 353) xác định tài sản được giao cho đối tượng thông qua sự phân công nhiệm vụ mang tính chất tổ chức, hành chính nội bộ của doanh nghiệp (nhận hàng để giao, nhận tiền cước để nộp về quỹ). Trong khi đó, tội Lạm dụng tín nhiệm (Điều 175) xác định tài sản được giao nhận thông qua một giao dịch dân sự, kinh tế hợp pháp độc lập (hợp đồng vay, mượn, thuê tài sản giữa các chủ thể bình đẳng).
  • Về thủ đoạn thực hiện hành vi khách quan: Tội Tham ô tài sản thể hiện ở việc đối tượng sử dụng chính vị trí công tác, quyền năng được giao (quyền thu tiền, quản lý mã vận đơn, quyền truy cập hệ thống báo cáo) làm phương tiện trực tiếp để chiếm đoạt tài sản, không nộp hoặc nộp thiếu về doanh nghiệp. Ngược lại, tại tội Lạm dụng tín nhiệm, sau khi nhận tài sản hợp pháp, đối tượng mới nảy sinh ý định chiếm đoạt bằng thủ đoạn gian dối, bỏ trốn hoặc sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến mất khả năng chi trả.
  • Về mặt chủ quan: Tội Tham ô tài sản luôn được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp và có động cơ vụ lợi rõ rệt ngay trong quá trình thực thi nhiệm vụ được giao.

3. Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả phối hợp điều tra, xử lý

Nhằm tháo gỡ các vướng mắc trong thực tiễn công tác phòng, chống tội phạm kinh tế, chức vụ tại địa phương, bài viết đề xuất một số giải pháp trọng tâm:

Thứ nhất, tăng cường phối hợp liên ngành tư pháp: Cơ quan Cảnh sát điều tra cần chủ động phối hợp chặt chẽ với Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân cùng cấp ngay từ giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm để thống nhất đường lối đánh giá chứng cứ, xác định đúng bản chất hành vi tham ô trong doanh nghiệp tư nhân, tránh việc trả hồ sơ điều tra bổ sung hoặc thay đổi tội danh tại phiên tòa.

Thứ hai, nâng cao trình độ nghiệp vụ cho lực lượng điều tra: Thường xuyên tổ chức tập huấn chuyên sâu, cập nhật kịp thời các Án lệ mới, các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao về tội phạm tham nhũng khu vực ngoài nhà nước cho đội ngũ Điều tra viên, Cán bộ điều tra ở cơ sở.

Thứ ba, đẩy mạnh công tác phòng ngừa xã hội: Lực lượng Công an chủ động tham mưu, phối hợp với Hiệp hội doanh nghiệp địa phương tuyên truyền, hướng dẫn các doanh nghiệp tư nhân hoàn thiện quy chế quản trị nội bộ, hợp đồng lao động, quy trình bàn giao tài sản và đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt để triệt tiêu các sơ hở phát sinh tội phạm.

Việc định tội danh chính xác hành vi tham ô tài sản trong khu vực kinh tế tư nhân không chỉ bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật mà còn là giải pháp căn cơ nhằm bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp của doanh nghiệp, kiến tạo môi trường sản xuất, kinh doanh minh bạch, lành mạnh trên địa bàn tỉnh.

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây