1. Một số quy định cần lưu ý về đốt nương
Đốt nương, xử lý thực bì phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về an toàn phòng cháy chữa cháy rừng theo Nghị định số 156/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp. Chủ nương phải đăng ký thời gian đốt với trưởng thôn bản, Kiểm lâm địa bàn và báo cáo chính quyền địa phương, đốt lúc gió nhẹ, vào buổi sáng sớm trước 9h sáng và vào buổi chiều tối sau 16h. Khi đốt phải làm đường băng cản lửa, vun thực bì thành các đốm nhỏ, đốt từ trên xuống dưới, khi đốt phải bố trí người canh gác và có dụng cụ dập lửa, phải dập tắt hoàn toàn tàn lửa trước khi ra về. Chỉ được sử dụng lửa đốt nương, xử lý thực bì trong những ngày có dự báo cấp cháy rừng từ cấp III trở xuống. Tuyệt đối không đốt nương, sử dụng lửa trong rừng trong thời gian cao điểm khô hanh, cấp dự báo cháy rừng từ cấp IV (cấp nguy hiểm) và cấp V (cấp cực kỳ nguy hiểm) nếu không đảm bảo các điều kiện an toàn trên.

2. Quy định về xử lý liên quan đến cháy rừng
- Nếu đốt nương để cháy lan gây thiệt hại rừng sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính, bị phạt tiền đến 200.000.000 đồng hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tùy mức độ, theo Nghị định số 35/2019/NĐ-CP của Chính phủ và các văn bản sửa đổi.
- Tại khoản 5, Điều 16, Nghị định số 35/2019/NĐ-CP ngày 25/4/2019 của Chính phủ cụ thể: Phạt tiền từ 1.500.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau:
+ Đốt lửa, sử dụng lửa để săn bắt động vật rừng, lấy mật ong, lấy phế liệu chiến tranh.
+ Không thực hiện đúng quy định của pháp luật về sử dụng lửa khi đốt nương, rẫy, đồng ruộng, đốt thực bì để chuẩn bị đất trồng rừng và làm giảm vật liệu cháy trong rừng.
+ Nếu vượt mức xử phạt vi phạm hành chính thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 243, Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội hủy hoại rừng thì bị phạt tù (Khung 1: phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm; khung 2: phạt tù từ 03 năm đến 07 năm; khung 3: phạt tù từ 07 năm đến 15 năm).
- Đối với hành vi đốt nương gây cháy lan vào rừng, tùy vào hành vi, diện tích rừng bị thiệt hại thì bị xử phạt vi phạm hành chính tại Điều 17 của Nghị định số 35/2019/NĐ-CP của Chính phủ cụ thể: Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng và Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả.
+ Nếu gây thiệt hại đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 243, Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với hành vi đốt nương gây cháy lan vào rừng có thể phạt tù từ 01 năm đến 15 năm.
- Đối với hành vi cố ý gây cháy rừng, đốt rừng với bất kỳ mục đích gì mà không được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì bị xử phạt theo quy định tại Điều 20 của Nghị định số 35/2019/NĐ-CP của Chính phủ, cụ thể: phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng và Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả gồm Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu; buộc thực hiện biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, buộc trồng lại rừng hoặc thanh toán chi phí trồng lại rừng đến khi thành rừng theo suất đầu tư được áp dụng ở địa phương tại thời điểm vi phạm hành chính.
+ Nếu vượt mức xử phạt vi phạm hành chính thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 243, Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội hủy hoại rừng thì bị phạt tiền đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 15 năm.

3. Đối với chủ rừng, đơn vị quản lý rừng
Tăng cường tuần tra, canh gác 24/24 giờ tại khu vực có nguy cháy rừng cao, phát dọn thực bì, tạo đường băng cản lửa, khơi thông cống rãnh tạo nguồn nước; rà soát, củng cố phương án phòng cháy, chữa cháy rừng; chuẩn bị đầy đủ phương tiện chữa cháy (như máy thổi gió, dao phát, bình chữa cháy, bơm nước); cắm biển cảnh báo nguy cơ cháy rừng tại các khu vực trọng điểm; phân công lực lượng trực sẵn sàng xử lý khi có cháy rừng xảy ra.

4. Đối với chính quyền địa phương
- Thường xuyên theo dõi, cập nhật thông tin cảnh báo cháy rừng, tổ chức thường trực 24/24h đảm bảo về lực lượng, phương tiện PCCC và CNCH để xử lý kịp thời có hiệu quả các vụ cháy rừng xảy ra, không để bị động, bất ngờ.
- Tổ chức tập huấn kiến thức, kỹ năng chữa cháy rừng cho lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng, chủ rừng và người dân sinh sống ven rừng để huy động tham gia chữa cháy rừng.
- Rà soát, lập danh sách các chủ rừng, hộ dân sống trong rừng, ven rừng hoặc có hành nghề liên quan đến rừng và tổ chức ký cam kết bảo vệ rừng và PCCC rừng, tuyên truyền, vận động người dân tham gia tố giác tội phạm, đấu tranh phòng chống các hành vi vi phạm về bảo vệ rừng và PCCC rừng; tăng cường kiểm tra an toàn về phòng cháy, chữa cháy rừng, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm về phòng cháy, chữa cháy rừng theo quy định của Pháp luật.
- Kiểm soát tại các khu vực rừng có nguy cơ cháy cao nhằm phát hiện sớm các điểm cháy rừng để xử lý có hiệu quả.

5. Đối với người dân khi vào rừng
Không được đốt nương, xử lý thực bì khi chưa được phép; không mang nguồn lửa, nguồn nhiệt (như bật lửa, bếp gas mini) vào rừng; không hút thuốc lá và vứt tàn thuốc trong rừng; không đốt ong lấy mật, đốt than, nấu ăn trong khu vực có nguy cơ cháy rừng cao.
6. Khi phát hiện xảy ra cháy rừng
- Báo ngay cho chính quyền địa phương, lực lượng Kiểm lâm gần nhất hoặc gọi số 114 để được hỗ trợ kịp thời.
- Các lực lượng tham gia chữa cháy rừng theo sự chỉ huy, không tự ý hành động, trong quá trình tham gia chữa cháy ưu tiên đảm bảo tính mạng con người trước tiên.
- Sau khi các vụ cháy rừng xảy ra, các lực lượng có liên quan phối hợp tổ chức điều tra, xác minh, làm rõ nguyên nhân, đối tượng vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy rừng, xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm theo quy định của Pháp luật.























































